Cán bộ, công chức ngành Kiểm sát nhân dân tỉnh tham dự Hội nghị quán triệt, triển khai Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018


Sáng ngày 28/5/2019 (thứ ba), toàn thể cán bộ, công chức Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Đồng Nai và 11 đơn vị cấp huyện tham dự Hội nghị trực tuyến Công tác phòng, chống tham nhũng và quán triệt, triển khai Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 trong ngành Kiểm sát nhân dân do Viện kiểm sát nhân dân Tối cao tổ chức.

Tại Hội nghị, toàn thể các cán bộ, công chức của Viện kiểm sát nhân dân 4 cấp trong toàn quốc, trong đó có cán bộ, công chức Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và 11 đơn vị cấp huyện, thị xã Long Khánh, thành phố Biên Hòa đã được nghe Viện kiểm sát nhân dân Tối cao quán triệt, triển khai những nội dung, yêu cầu nhiệm vụ liên quan đến công tác Luật Phòng, chống tham nhũng. Đặc biệt là những nội dung mới cơ bản của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và những vấn đề cần lưu ý trong việc triển khai thực hiện trong ngành Kiểm sát nhân dân. Cụ thể:

Trước đây, Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) được ban hành đã góp phần nâng cao chất lượng công tác PCTN và thực tiễn đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, tạo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước; giúp cải thiện môi trường kinh doanh và đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Nỗ lực PCTN của Việt Nam đã được quốc tế ghi nhận trong khuôn khổ thực thi Công ước Liên hợp quốc về Chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên và các diễn đàn quốc tế khác. Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thi hành, tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, công tác phát hiện, xử lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu, số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện còn ít, một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm, thu hồi tài sản tham nhũng đạt kết quả thấp, gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm PCTN của Đảng và Nhà nước ta. Bên cạnh đó, Luật PCTN năm 2005 còn nhiều bất cập, vướng mắc như: 1) quy định về công khai, minh bạch còn chưa mang tính bao quát và thiếu các biện pháp bảo đảm thực hiện; 2) quy định về trách nhiệm giải trình chưa phù hợp, còn hẹp; 3) chưa quy định một cách đầy đủ, toàn diện về kiểm soát xung đột lợi ích đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; 4) thiếu quy định về cơ chế giám sát, tiếp nhận, xử lý thông tin, phản ánh vi phạm về nhận, tặng quà; 5) các quy định về xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình còn chưa cụ thể, chưa rõ ràng và không khuyến khích được tính chủ động của người đứng đầu trong phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; 6) các quy định về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập chưa giúp kiểm soát biến động về tài sản, thu nhập; 7) các quy định về cơ chế phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa phù hợp, đặc biệt là cơ chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra, kiểm toán với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng chưa phát huy vai trò của mỗi cơ quan trong xử lý vụ việc có dấu hiệu tham nhũng; 8) các quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng còn thiếu các biện pháp bảo đảm thực hiện, đặc biệt là các biện pháp bảo vệ người tố cáo, khen thưởng người có thành tích trong tố cáo tham nhũng; 9) thiếu quy định về các biện pháp xử lý phi hình sự đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến hành vi tham nhũng và thiếu quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền để xử lý các hành vi vi phạm Luật PCTN...

Từ những lý do nêu trên, ngày 20/11/2018, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIV đã thông qua Luật PCTN (Luật số: 36/2018/QH14) thay thế Luật PCTN số 55/2005/QH11, Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13. Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố và Luật sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2019.

 
20190530 VKS 1.jpg
20190530 VKS 2.jpg
Hình ảnh tại Hội nghị

 Một số nội dung mới đáng chú ý là:

1/ Về các hành vi tham nhũng

- Luật PCTN năm 2018 quy định cụ thể về 12 hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và 03 hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước.

+ Đối với 12 hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước, giữ như quy định của Luật PCTN năm 2005, là những hành vi do người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước thực hiện.

+ Đối với hành vi tham nhũng khu vực ngoài nhà nước, để bảo đảm phù hợp với các quy định của BLHS, chỉ quy định các hành vi tham nhũng do người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước thực hiện, bao gồm 03 hành vi: tham ô tài sản; nhận hối lộ; đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi.

- Lý do: Hành vi tham nhũng, cũng như chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước là khác nhau. Do đó, Luật PCTN năm 2018 đã quy định riêng về các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước, để bảo đảm phù hợp, đồng bộ với quy định của BLHS năm 2015.

2/ Về tặng quà và nhận quà tặng: 

Kế thừa Luật PCTN năm 2005, Luật PCTN năm 2018 đã quy định cụ thể hơn về việc tặng quà và nhận quà (Điều 22). Theo đó:

+ Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được sử dụng tài chính công, tài sản công làm quà tặng, trừ trường hợp tặng quà vì mục đích từ thiện, đối ngoại và trong trường hợp cần thiết khác theo quy định của pháp luật.

+ Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình.

+ Luật cũng giao cho Chính phủ quy định chi tiết về các nội dung trên.

3/ Về kê khai tài sản, thu nhập

Luật PCTN năm 2018: Kế thừa một số quy định của Luật PCTN năm 2005 nhưng có sửa đổi, bổ sung nhiều quy định theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (Điều 33); người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập (Điều 34); loại tài sản, thu nhập phải kê khai (Điều 35); Công khai bản kê khai tài sản, thu nhập (Điều 39). Đồng thời, bổ sung nhiều quy định mới về phương thức và thời điểm kê khai tài sản, thu nhập (Điều 36); tổ chức việc kê khai tài sản, thu nhập (Điều 37); tiếp nhận, quản lý, bàn giao bản kê khai tài sản, thu nhập (Điều 38); theo dõi biến động tài sản, thu nhập (Điều 40). Trong đó:

- Về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập: Kế thừa, có sửa đổi, bổ sung quy định của Luật PCTN năm 2005 theo hướng rõ ràng, cụ thể hơn. Theo đó, người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập phải kê khai tài sản, thu nhập và mọi biến động về tài sản, thu nhập của mình, của vợ hoặc chồng, con chưa thành niên.

- Về người có nghĩa vụ kê khai, tài sản: Luật PCTN năm 2018 đã mở rộng đối tượng có nghĩa vụ kê khai gồm: tất cả cán bộ, công chức; sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Điều 34). Đồng thời, thu hẹp diện đối tượng phải kê khai thường xuyên, kê khai hằng năm, chỉ gồm: Người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên; người làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác theo quy định của Chính phủ… (Điều 36).

- Về tài sản, thu nhập phải kê khai: Kế thừa Luật PCTN hiện hành và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, Luật PCTN năm 2018 quy định chi tiết hơn về tài sản, thu nhập phải kê khai tại Điều 35 để dễ thực hiện trong thực tế.

- Về phương thức và thời điểm kê khai tài sản, thu nhập: Đây là một điểm mới cơ bản của Luật PCTN năm 2018. Để khắc phục hạn chế hiện nay và phù hợp với việc mở rộng người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, thu hẹp cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập, Điều 36 Luật PCTN năm 2018 quy định các phương thức kê khai áp dụng cho từng đối tượng kê khai khác nhau, gồm kê khai lần đầu, kê khai bổ sung, kê khai hằng năm và kê khai phục vụ công tác cán bộ. Cụ thể:

+ Một là, kê khai lần đầu: Được thực hiện đối với tất cả cán bộ, công chức; sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (khoản 1, 2 và 3 Điều 34) trong 02 trường hợp:

Trường hợp 1: Họ đang giữ vị trí công tác tại thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành thì thời điểm phải hoàn thành kê khai tài sản, thu nhập trước ngày 31/12/2019.

Trường hợp 2:  Họ lần đầu giữ vị trí công tác, thời điểm kê khai phải hoàn thành chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày được tiếp nhận, tuyển dụng, bố trí vào vị trí công tác.

+ Hai là, kê khai bổ sung:  Được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 300.000.000 đồng trở lên. Thời điểm phải phải hoàn thành việc kê khai trước ngày 31/12 của năm có biến động về tài sản, thu nhập, trừ trường hợp đã kê khai theo quy định về kê khai hằng năm.

+ Ba là, kê khai hằng năm: Được thực hiện đối với 02 trường hợp:

Trường hợp 1:  Người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên. Thời điểm phải phải hoàn thành việc kê khai trước ngày 31/12 của năm;

Trường hợp 2:  Người không thuộc trường hợp 1 nhưng làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác theo quy định của Chính phủ. Thời điểm phải phải hoàn thành việc kê khai trước ngày 31/12 của năm;

+ Bốn là, kê khai phục vụ công tác cán bộ: Được thực hiện trong 02 trường hợp:

Trường hợp 1:  Đối với cán bộ, công chức; sĩ quan Công an nhân dân; sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp; người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (khoản 1, 2 và 3 Điều 34) khi họ được dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác. Thời điểm phải hoàn thanh việc kê khai chậm nhất là 10 ngày trước ngày dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác;

Trường hợp 2:  Đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu HĐND thì thời điểm kê khai được thực hiện theo quy định của pháp luật về bầu cử.

- Về tổ chức việc kê khai tài sản, thu nhập, Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai tổ chức việc lập và gửi danh sách người có nghĩa vụ kê khai cho Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có thẩm quyền; hướng dẫn việc kê khai và lập sổ theo dõi kê khai, giao, nhận bản kê khai (Điều 37).

- Về tiếp nhận, quản lý, bàn giao bản kê khai tài sản, thu nhập, Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý bản kê khai; yêu cầu kê khai bổ sung hoặc kê khai lại và tiến hành rà soát, kiểm tra bản kê khai và bàn giao 01 bản kê khai cho Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có thẩm quyền theo đúng quy định về thời hạn yêu cầu, bàn giao (Điều 38).

- Về theo dõi biến động tài sản, thu nhập, thông qua việc phân tích, đánh giá thông tin từ bản kê khai hoặc từ các nguồn thông tin khác, nếu phát hiện tài sản, thu nhập có biến động từ 300.000.000 đồng trở lên so với tài sản, thu nhập đã kê khai lần liền trước đó mà người có nghĩa vụ kê khai không kê khai thì Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có quyền yêu cầu người đó cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan; trường hợp tài sản, thu nhập có biến động tăng thì phải giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm (Điều 40).

- Về công khai bản kê khai tài sản, thu nhập: Kế thừa Luật PCTN năm 2005, Luật PCTN năm 2018 tiếp tục quy định bản kê khai được công khai theo từng nhóm đối tượng: 1) Công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc; 2) Công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm đối với người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; 3) Công khai theo quy định của pháp luật về bầu cử đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu HĐND; 4) công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm khi tiến hành bổ nhiệm hoặc tại cuộc họp của Hội đồng thành viên khi tiến hành bầu các chức vụ lãnh đạo, quản lý tại doanh nghiệp nhà nước (Điều 39).

- Lý do: Các quy định về kê khai tài sản, thu nhập được sửa đổi, bổ sung để rõ ràng, cụ thể hơn, dễ thực hiện trong thực tế; đồng thời, mở rộng đối tượng có nghĩa vụ kê khai đến tất cả cán bộ, công chức nhằm mục đích chủ yếu là tạo cơ sở để so sánh, đối chiếu khi họ được bổ nhiệm vào chức vụ cao hơn hoặc khi có tài sản, thu nhập biến động trong năm từ 300 triệu đồng trở lên. Bên cạnh đó, thu hẹp diện đối tượng phải kê khai thường xuyên, kê khai hằng năm nhằm phù hợp với việc thu hẹp đầu mối cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập và bảo đảm tính khả thi.

4/ Về phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng

- Luật PCTN năm 2018 mở rộng hơn các hình thức tiếp nhận thông tin về tham nhũng so với quy định của Luật PCTN năm 2005, bao gồm: phản ánh, tố cáo và xử lý phản ánh, giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng (Điều 65); báo cáo và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 66) để giúp các cơ quan có thẩm quyền có nhiều kênh thông tin tiếp nhận, thu thập các thông tin về tham nhũng nhằm phát hiện và xử lý nhanh chóng, kịp thời; đồng thời, khuyến khích cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. Quy định rõ hơn trách nhiệm tiếp nhận và xử lý phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng tại Điều 65 và Điều 66.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định mới về bảo vệ người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 67); khen thưởng người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 68) và trách nhiệm của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng (Điều 69). Luật Tố cáo vừa được Quốc hội thông qua đã quy định chi tiết về việc bảo vệ người tố cáo, trong đó có cả việc bảo vệ những người thân thích của người tố cáo. Đồng thời, việc khen thưởng cho người tham gia tích cực vào công tác phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng cũng đã được pháp luật về khen thưởng quy định. Tuy nhiên, đối với việc bảo vệ người phản ánh, báo cáo thì pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể. Vì vậy, Điều 67 Luật PCTN năm 2018 quy định người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng được áp dụng các biện pháp bảo vệ như bảo vệ người tố cáo. Điều 69 Luật PCTN năm 2018 cũng quy định trách nhiệm của người phản ánh, tố cáo, báo cáo về hành vi tham nhũng phải chịu trách nhiệm về việc tố cáo của mình theo quy định của Luật Tố cáo; người phản ánh, báo cáo về hành vi tham nhũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của nội dung phản ánh, báo cáo.

- Lý do: Để bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tố cáo và việc mở rộng hơn các hình thức tiếp nhận thông tin về tham nhũng; đề cao tính tự chịu trách nhiệm, tính trung thực của nội dung phản ánh, tố cáo, báo cáo.

5/ Về Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong PCTN (Chương IV):

- Luật PCTN năm 2018 đã quy định một chương riêng và sửa đổi, bổ sung nhằm cụ thể hóa và đề cao vai trò của người đứng đầu, gồm: trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phòng, chống tham nhũng (Điều 70); trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác (Điều 71); trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 72); xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 73). Trong đó:

+ Xác định rõ nội dung trách nhiệm chung của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong chỉ đạo PCTN; gương mẫu, liêm khiết; chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh; chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

+ Quy định cụ thể, rõ ràng hơn về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc áp dụng biện pháp tạm đình chỉ công tác, tạm thời chuyển sang vị trí công tác khác (Điều 71) và trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 72).

+ Bổ sung quy định người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách được xem xét miễn hoặc giảm hình thức kỷ luật nếu chủ động xin từ chức trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện, xử lý, trừ trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Quy định này nhằm đề cao trách nhiệm chính trị của cá nhân người đứng đầu, giúp hình thành “văn hóa từ chức” khi để xảy ra vi phạm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Quy định các trường hợp giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm kỷ luật đối với người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách nhằm hoàn thiện chế định xử lý người đứng đầu theo các giải pháp được nêu tại Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị.

- Lý do: Khắc phục những hạn chế, bất cập, vướng mắc của quy định về trách nhiệm của người đứng đầu trong PCTN và thể chế hóa chủ trương của Đảng tại Nghị quyết Trung ương 2 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN và Kết luận số 10-KL/TW của Bộ Chính trị.

6/ Về xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN (Chương IX):

Đây là chương có nhiều nội dung mới được bổ sung, thể hiện sự nghiêm minh trong xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật về PCTN, tăng cường hiệu quả thực thi Luật PCTN và hiệu quả của công tác PCTN. Trong đó:

- Về xử lý người có hành vi tham nhũng, Điều 92 quy định cụ thể: 1) Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác (khoản 1). 2) Người có hành vi tham nhũng, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật (khoản 2). 3) Trường hợp người có hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét tăng hình thức kỷ luật (khoản 3). 4) Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. 5) Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (khoản 5).

- Về xử lý tài sản tham nhũng, Điều 93 Luật PCTN năm 2018 quy định: Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của pháp luật (khoản 1). Thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra phải được khắc phục; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật (khoản 2).

- Về xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN: So với Luật PCTN năm 2005, Điều 1 Luật PCTN năm 2018 đã thay cụm từ “xử lý người có hành vi tham nhũng bằng cụm từ “xử lý tham nhũng” nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật PCTN năm 2018 bao gồm cả việc xử lý người có hành vi tham nhũng, xử lý cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN. Do đó, Chương IX Luật PCTN năm 2018 đã quy định về xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN. Trong đó: Điều 94 liệt kê các hành vi vi phạm pháp luật về PCTN và quy định mang tính nguyên tắc xử lý đối với các hành vi này. Đối với người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét áp dụng tăng hình thức kỷ luật. Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó. Luật PCTN năm 2018 giao Chính phủ quy định chi tiết việc xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính. Bên cạnh đó, Điều 95 đã quy định xử lý hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về PCTN trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

- Lý do: Để quy định rõ ràng, cụ thể và mở rộng hơn để tạo cơ sở pháp lý xử lý nghiêm khắc đối với người có hành vi tham nhũng và tăng cường công tác thu hồi tài sản tham nhũng; công khai, minh bạch việc trả lại tài sản tham nhũng và quy định về việc khắc phục, bồi thường thiệt hạn do hành vi tham nhũng gây ra.

…..

Ngoài ra, Hội nghị đã nghe Lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân Tối cao quán triệt một số nhiệm vụ trong công tác đấu tranh, chống tội phạm tham nhũng, gồm có:

1. Trong công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần tiếp tục tăng cường công tác phối hợp với cơ quan giám sát, thanh tra, kiểm toán, cơ quan điều tra để giải quyết kịp thời, hiệu quả các kiến nghị khởi tố, đưa ra khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh các tội phạm tham nhũng, tích cực trong thu hồi tài sản tham nhũng cho Nhà nước. Giữ ổn định và hoàn thiện tổ chức, biên chế của các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng trong Viện kiểm sát nhân dân, chủ động đánh giá thực trạng để tăng cường trách nhiệm trong đấu tranh, giải quyết án tham nhũng của các đơn vị này.

2. Viện trưởng VKSND các cấp cần nghiêm túc tổ chức thực hiện, chỉ đạo công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ án tham nhũng. Cơ quan điều tra VKSND Tối cao tích cực điều tra tội phạm tham nhũng trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra của ngành Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án, Cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp.

Trong quá trình giải quyết các vụ việc, vụ án tham nhũng cần xử lý nghiêm người có hành vi tham nhũng dù người đó đang giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác; xem xét tăng hình thức kỷ luật đối với người có hành vi tham nhũng nếu họ là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị hoặc giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nếu họ chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền trong đấu tranh với tội phạm tham nhũng, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; kịp thời xử lý hành vi tham nhũng khi có đủ yếu tố cấu thành tội phạm; đặc biệt, tập trung đối với những vụ việc, vụ án tham nhũng lớn thuộc diện theo dõi, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, các tỉnh, thành ủy.

Tăng cường các biện pháp phối hợp thu hồi tài sản tham nhũng; khắc phục thiệt hại, yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.

3. Đề xuất các giải pháp về tổ chức bộ máy, cán bộ và các điều kiện bảo đảm để thực hiện nhiệm vụ là cơ quan trung ương về hợp tác quốc tế thu hồi tài sản tham nhũng trong tố tụng hình sự; tiếp nhận, xử lý yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự của nước ngoài và đề nghị nước ngoài thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự về thu hồi tài sản tham nhũng. Tăng cường công tác phối hợp với Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và cơ quan nhà nước có liên quan, trong hợp tác quốc tế về thu hồi tài sản tham nhũng./.

 

Nguyễn Văn Huyện

Phó Chánh Văn phòng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

 


Liên kết website

Lượt truy cập

ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH ĐỒNG NAI

Địa chỉ: Kp1 phường Quyết Thắng, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Số điện thoại: 02513822060; Fax: 02513822462; Email: duk@dongnai.gov.vn
Ghi rõ nguồn 'ĐẢNG ỦY KHỐI CÁC CƠ QUAN TỈNH ĐỒNG NAI' hoặc 'www.dukccq.dongnai.gov.vn' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này. ​